XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ MIỄN PHÍ CHO CỘNG ĐỒNG

I. Trợ giúp pháp lý và những đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí

       Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Trợ giúp pháp lý  là một phần quan trọng trong chính sách của nhà nước ta nhằm tăng cường hệ thống tư pháp, các quyền dân chủ và một hệ thống tư pháp phục vụ nhân dân. Thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí là thực hiện một hoạt động tiến bộ, có tính nhân đạo nhân văn cao cả vì con người và nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của con người đồng thời cũng là bảo vệ lợi ích pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhờ được trợ giúp pháp lý miễn phí mà những người nghèo, những đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận, sử dụng các quy định của pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đặc biệt, TGPL đã trở thành chỗ dựa của người nghèo, nhóm người yếu thế trong xã hội trong các vướng mắc, tranh chấp pháp lý.  

Những đối tượng  được trợ giúp pháp lý miễn phí:

Theo quy định tại Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 những đối tượng được trợ giúp pháp lý bao gồm:

1. Người nghèo.

2. Người có công với cách mạng.

3. Người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa.

4. Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Cụ thể như sau:

Người nghèo: Là người thuộc chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật .
- Người có công với cách mạng, gồm: Người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng LLVTND, Anh hùng lao động;

 - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng, gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”, người được tặng Huân, Huy chương kháng chiến; Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sỹ; con của liệt sỹ chưa đủ 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ.

- Người già cô đơn: là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân hoặc không có nơi nương tựa.

- . Người khuyết tật theo Luật người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn; người bị nhiễm chất độc hóa học, bị nhiễm HIV mà không có nơi nương tựa.

- Trẻ em và người chưa thành niên dưới 18 tuổi.

- Người dân tộc thiểu số: là người thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
- Các đối tượng khác, gồm: Phụ nữ: là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị bóc lột sức lao động hoặc bị xâm hại tình dục; phụ nữ đang trong quá trình chuẩn bị thủ tục kết hôn và ly hôn; phụ nữ có tranh chấp, vướng mắc pháp luật, người bị hại, bị can, bị cáo trong thời gian mang thai, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng; phụ nữ là người khuyết tật hoặc đang bị các bệnh hiểm nghèo; phụ nữ là người lao động bị sa thải trái pháp luật hoặc nạn nhân bị lừa đảo trong quan hệ lao động, trong quan hệ hôn nhân gia đình hoặc bị tước đoạt tài sản trái pháp luật và các đối tượng khác được TGPL theo quy định tại các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  

Vai trò, vị trí của nhà nước trong hệ thống trợ giúp pháp lý:

Điều 6 Luật trợ giúp pháp lý quy định:

1. Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước.

2. Nhà nước giữ vai trò nồng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện đóng góp, hổ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý.

Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý:

Điều 13 Luật trợ giúp pháp lý quy định các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý gồm :

- Các trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được tổ chức tại tất cả tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- Các tổ chức hành nghề luật sư.

- Các tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chíùnh trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp (gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật).

Người tham gia trợ giúp pháp lý

Theo Điều 20 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006, người thực hiện TGPL bao gồm: Trợ giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý.

Người tham gia trợ giúp pháp lý gồm: Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; Luật sư cộng tác viên; Tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật.Trợ giúp viên pháp lý (TGVPL) là nòng cốt của người thực hiện TGPL (Lãnh đạo của Trung tâm, Chi nhánh và Phòng chuyên môn, nghiệp vụ của Trung tâm TGPL phải là TGVPL); Trợ giúp viên pháp lý thực hiệnTGPL bằng các hình thức: Tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự; người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính; đại diện ngoài tố tụng cho người được TGPL để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; thực hiện các hình thức TGPL khác.

Luật sư hoạt động theo quy định của pháp luật về luật sư, việc tham gia nhiệm vụ TGPL với tư cách là cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước, được thực hiện các hình thức như Trợ giúp viên.Các trường hợp người thực hiện trợ giúp khác là cộng tác viên chỉ được tham gia lĩnh vực tư vấn pháp luật.

Vai trò của luật sư trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý

Điều 3 Luật Luật sư đã được sửa đổi bổ sung có hiệu lực thi hành từ 1.7.2013 qui định chức năng xã hội của luật sư: Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền VN xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Do đó, trợ giúp pháp lý miễn phí cho người dân là chức năng, trách nhiệm xã hội của luật sư. Luật sư có nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng khác nhau theo qui định của pháp luật.

Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, luật sư phải luôn tận tâm, tích cực với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong những vụ việc có nhận thù lao. Đây chính là nghĩa vụ đối với xã hội của luật sư phải thực hiện trợ giúp pháp lý và là một trong những qui tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư, bắt buộc luật sư phải tuân thủ trong suốt quá trình hành nghề của mình. Việc trợ giúp pháp lý miễn phí là lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư.

II. Xây dựng và phát triển văn hóa trợ giúp pháp lý:

 Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

- Khái niệm về văn hóa: Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt,văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức,lối sống. Theo nghỉa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng,thì văn hóa bao gồm tất cả,từ những sản phẩm tinh vi,hiện đại,cho đến tín ngưỡng,phong tục,lối sống... + Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.

Từ đó có thể hiểu: Văn hoá trợ giúp pháp lý là hệ thống những giá trị niềm tin, của tổ chức trợ giúp pháp lý người thực hiện trợ giúp pháp lý với người được trợ giúp pháp lý miễn phí nó tác động qua lại với nhau, nó được hình thành trong quá trình thực hiện trợ giúp giúp pháp lý. Văn hóa trợ giúp pháp lý đó là: Thái độ ứng xử, mối quan hệ văn minh lịch sự của người tham gia trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý. Người tham gia trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý đều phải được tôn trọng, người tham gia trợ giúp pháp lý phải thực hiện đúng nguyên tắc trợ giúp pháp lý. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải xác định, trợ giúp pháp lý là niềm tự hào, cũng như trách nhiệm nặng nề của mình, trợ giúp pháp lý phải mang tính nhân văn cao cả, không phải bố thí ban ơn.

     1.   Sự cần thiết xây dựng và phát triển văn hóa trợ giúp pháp lý

Như chúng ta được biết những người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý họ thuộc nhóm người yếu thế trong xã hội, họ rất dễ bị tổn thương, họ thường mặc cảm với hoàn cảnh sống của mình, họ thường sống thu mình không thích tiếp xúc với mọi người xung quanh. Họ thường là người có hoàn cảnh sống khó khăn, nghèo về vật chất tinh thần, nghèo về kiến thức nói chung, và kiến thức về pháp luật nói riêng cho nên họ rất dễ bị xâm hại, và bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Họ thường tự kỳ thị mình và bị người khác  kỳ thị, phân biệt đối xử  hắt hủi trong cuộc sống, trong số họ có nhiều người có tư tưởng buồn chán cộng với không hiểu biết pháp luật nên họ thưởng nảy sinh tư tưởng phản kháng chống đối xã hội và vi phạm pháp luật. Và khi bị vướng mắc về mặt pháp luật, họ thường phải chịu nhiều thiệt thòi vì không có kiến thức về pháp luật. Tuy nhiên,  họ lại rất ngại đến các Trung tâm tư vấn pháp luật để được tư vấn và trợ giúp pháp lý vì những nguyên nhân sau:

+ Thủ tục để được trợ giúp pháp lý còn phức tạp: Họ phải làm đơn, phải chứng minh mình thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý, các giấy tờ kèm theo đơn thường là bản sao ( chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, sổ hộ nghèo, giấy tờ chứng minh các đối tượng chính sách, giấy xét nghiệm HIV dương tính, một số giấy xác nhận của UBND xã phường…)

 + Các cán bộ làm công tác tư vấn và trợ giúp pháp lý thường thiếu kỹ năng tư vấn và trợ giúp pháp lý cho nhóm đối tượng yếu thế.

 Ví dụ: Trợ giúp cho người khuyết tật nhất là người khiếm thính khiếm thị phải có kỹ năng, có người trợ giúp để giao tiếp với họ, với người nhiễm HIV, người bán dâm, người sử dụng ma túy cũng phải có kỹ năng riêng

+ Khả năng giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý của một số tổ chức tham gia trợ giúp còn hạn chế, giải quyết nửa chừng, thường không theo đến cùng các vụ việc.

+ Nhiều tổ chức và người tham trợ giúp pháp lý chưa tạo được môi trường thân thiện với người được trợ giúp pháp lý miễn phí

Việc trợ giúp pháp lý cho người yếu thế chúng ta cần xác định đó là trách nhiệm của các cấp các ngành và là trách nhiệm xã hội của những người đang công tác trong ngành pháp luật, nó mang tính nhân văn cao cả chứ không phải trợ giúp pháp lý mang tính bố thí ban ơn.

Để trợ giúp pháp lý có hiệu quả rất cần xây dựng và pháp triển văn hóa trợ giúp pháp lý cho cộng đồng nói chung và nhóm người yếu thế nói riêng, văn hóa trợ giúp pháp lý sẽ góp phần quan trọng tạo nên sự thân thiện và xóa đi rào cản giữa  Tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý với người được trợ giúp pháp lý miễn phí.

Xây dựng văn hóa trợ giúp pháp lý cho cộng đồng là xây dựng nét đẹp của tổ chức trợ giúp pháp lý, của người trợ giúp pháp lý không phân biệt tổ chức đó là của Nhà nước và ngoài nhà nước đều có trách nhiệm trợ giúp pháp lý cho cộng đồng. Muốn xây dựng văn hóa trợ giúp pháp lý cho cộng đồng, cần phải làm để cho mọi người thấy được trách nhiệm xã hội của mình trong việc trợ giúp pháp lý cho những đối tượng yếu thế trong xã hội

Xây dựng văn hóa với những người được trợ giúp pháp lý miễn phí ta phải tiếp cận dưới góc độ họ là những người bạn, người thân của mình phải có cách ứng xử  phù hợp với từng đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí và phải có trách nhiệm với họ, trách nhiệm với vụ việc trợ giúp pháp lý

2. Xây dựng và phát triển văn hóa trợ giúp pháp lý 

Nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý thường là nhóm người yếu thế trong xã hội, họ rất dễ bị tổn thương, họ ít hiểu biết về mặt pháp luật và thường bị xâm phạm về quyền của mình. Để trợ giúp pháp lý cho họ có hiệu quả rất cần xây dựng và pháp triển văn hóa trợ giúp pháp lý cho cộng đồng nói chung và nhóm người yếu thế nói riêng

Xây dựng và pháp triển văn hóa trợ giúp pháp lý, tức là xây dựng mối quan hệ giữa tổ chức trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý. Văn hóa trợ giúp pháp lý là những giá trị niềm tin sự mong đợi của người được trợ giúp pháp lý với những vụ việc cần được trợ giúp pháp lý, cũng như tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý nó tác động qua lại với nhau tạo nên những chuẩn mực hành động mà các bên phải tuân theo trong quá trình thực hiện công việc.

Xây dựng và pháp triên văn hóa trợ giúp pháp lý là xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, thân thiện với người được trợ giúp pháp lý với mục đích để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ một cách tốt nhất. Muốn như thế tổ chức và  người thực hiện trợ giúp pháp lý cần có “ Tâm” trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý, cần có chuyên môn giỏi, nhiệt tình trong công việc, thấu hiểu tâm lý, tâm trạng của người được trợ giúp pháp lý.

- Xây dựng và phát triển văn hóa trợ giúp pháp lý cần phải có :

+ Thái độ ứng xử của người thực hiện giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý: Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thấy rõ được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình không phải bố thí ban ơn, tận tâm với công việc tôn trọng người được trợ giúp pháp lý. Người được trợ giúp pháp lý cũng phải tôn trọng người thực hiện trợ giúp pháp lý, và công việc của họ thực hiện đúng qui định của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, không coi được trợ giúp pháp lý là đặc quyền của mình, khi đề nghị trợ giúp pháp lý phải đúng vụ việc…

+ Xây dựng mối quan hệ văn minh lịch sự giữa người thực hiện trợ giúp pháp và người được trợ giúp pháp lý: Tiếp đón, kỹ năng giao tiếp, ăn mặc, đi đứng nói năng…

+ Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải tôn trọng qui trình trình tụ thủ tục trợ giúp pháp lý

+ Người trợ giúp pháp lý phải tôn trọng thực hiện đúng nguyên tắc trợ giúp pháp lý

Luật trợ giúp pháp lý đã quy định năm nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý, đó là:

              - Không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý.

              - Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.

               - Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.

                -  Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý.

                 - Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý.

    Ngoài những nguyên tắc chung nói trên, khi thực hiện tư vấn pháp luật, người tư vấn cũng cần tuân thủ các nguyên tắc cụ thể dưới đây:

    Một là, nguyên tắc pháp chế. Theo đó, nội dung tư vấn phải phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.

    Hai là, nguyên tắc kịp thời. Người thực hiện tư vấn phải đưa ra ý kiến một cách kịp thời trong thời hạn luật định, nhất là đối với vụ việc có quy định thời hiệu khởi kiện hoặc khiếu nại để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn, quyết định cách xử sự phù hợp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    Ba là, nguyên tắc cụ thể. Người thực hiện trợ giúp pháp lý đưa ra lời khuyên phải cụ thể, rõ ràng để người được tư vấn dễ dàng tiếp thụ và thực hiện theo hướng dẫn của người tư vấn.

     Bốn là, nguyên tắc khả thi. Nội dung tư vấn phải có tính khả thi; phù hợp

III. Một số kinh nghiệm tư vấn và trợ giúp pháp lý cho người yếu thế

Để Tư vấn pháp luật và Trợ giúp pháp lý miễn phí cho những người yếu thế có hiệu quả, tổ chức và người thực hiện tư vấn và trợ giúp pháp lý cần phải:

-         Thực sự yêu thương và cảm thông với hoàn cảnh của người những người yếu thế trong xã hội

-         Phải nắm bắt được tâm lý của họ: Họ thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội cho nên họ thường tự kỳ thị với chính bản thân họ, sống xa lánh mọi người là những đối tượng dễ bị tổn thương, dễ xúc động…. Không công ăn việc làm không có thu nhập, chính vì vậy họ thường là những người nghèo. Trong số họ có  những người trong quá khứ có những lỗi lầm và vướng mắc với pháp luật cho nên họ thường ngại tiếp xúc với người khác

-         Phải có kỹ năng thu thập thông tin, xử lý thông tin.

-         Phải nắm vững các qui định của pháp luật

-         Phải nắm bắt được tâm lý và kỹ năng giao tiếp với từng đối tượng khách hàng ( như  khách hàng nhiễm HIV nghiện ma túy; mại dâm nhiễm HIV; mại dâm nghiện ma túy nhiễm HIV, người nghèo, người tàn tật, người dân tộc thiểu số…

-         Phải chủ động tìm đến khách hàng  

-         Trong tư vẫn và trợ giúp pháp lý cho người yếu thế rất cần các cộng tác  và và trợ giúp của các thành viên của  nhóm người yếu thế

-         Phải có mối liên hệ với các cơ quan nhà nước các tổ chức xã hội trong việc tư vấn và trợ giúp pháp lý miễn phí cho người yếu thế 

Luật sư: Trịnh Quang Chiến

Tin cùng loại