BÌNH LUẬN KHOA HỌC VẤN ĐỀ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TRONG MANG THAI HỘ

 

I.                  Sự cần thiết phải cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo


-         Theo báo cáo của Bộ Y tế thì Việt Nam có tỷ lệ vô sinh trong cả nước khá cao là 7,7%, tương đương khoảng 700.000 - 1 triệu cặp vợ chồng hiếm muộn trong cả nước.

-         Trong các nguyên nhân gây vô sinh có nguyên nhân do tử cung người vợ bị tật bẩm sinh hoặc do các bệnh lý khác khiến cho người phụ nữ không thể mang thai được. Mặc dù áp dụng phương pháp sinh con theo phương pháp khoa học, người chồng có tinh trùng, người vợ có noãn nhưng họ cũng không thể có con được. Họ rất cần người mang thai hộ để có thể có được chính những đữa trẻ do chính tinh trùng và noãn của họ tạo nên, đây là nhu cầu chính đáng và cần thiết.

-         Việc cho phép mang thai hộ là một giải pháp mang tính nhân văn nhằm tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con để thực hiện được quyền làm cha, mẹ.

-         Nếu không được quy định trong luật thì do nhu cầu có con nên họ vẫn thực hiện mang thai hộ và họ làm tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam (làm chui) dẫn tới các hậu quả sẽ xảy ra:

·        Tình trạng đẻ thuê (vì mục đích thương mại);

·        Không đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng cho đứa trẻ và người mang thai hộ;

·        Quyền lợi của người mang thai hộ và quyền lợi của đứa trẻ sẽ không được đảm bảo;

·        Phát sinh tranh chấp vì không có quy định chặt chẽ của pháp luật.

 

II.               Các quy định về mang thai hộ trong dự thảo luật

Một trong những nội dung quan trọng vừa được đưa vào Dự thảo Luật sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình là cho phép “mang thai hộ”. Việc mang thai hộ chỉ được thực hiện vì mục đích nhân đạo. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được áp dụng đối với những cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Theo đó, Luật  cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại, không vì lợi ích kinh tế. Như vậy việc quản lý phải chặt chẽ để đạt được mục đích nhân đạo.

1.     Điều kiện để nhờ mang thai hộ

Phải được hội đồng chuyên môn của cơ sở chuyên khoa phụ sản xác định:

-         Tinh trùng có khả năng thụ thai của người chồng;

-         Noãn có khả năng thụ thai của người vợ ;

-         Người vợ không thể mang thai được.

2.      Đối với người mang thai hộ:

-         Phải đủ sức khỏe mang thai;

-         Đã từng sinh con;

-         Phải là người thân thích của người mang thai hộ;

-         Được người chồng đồng ý;

3.     Một số quy định khác đối với mang thai hộ

-         Việc mang thai hộ phải được thực hiện bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản:

-         Hai bên phải có sự thỏa thuận bằng văn bản, xác định quyền và trách nhiệm của các bên thật chặt chẽ để tránh sự tranh chấp sau này. Điều quan trọng là phải đảm bảo an toàn sức khỏe và tính mạng cho người mang thai hộ, cho đứa trẻ; đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ và quyền của người mang thai hộ.

-         Ngành Y tế phải quản lý được những người mang thai hộ để tránh tình trạng mang thai hộ nhiều lần. Trước hết chỉ nên quy định một số ít cơ sở được thực hiện việc mang thai hộ.

 

III.           Vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong mang thai hộ

1.     Để bảo đảm quyền lợi cho người phụ nữ và trẻ em cần phải thực hiện các chế độ sau:

-         Chế độ thai sản đối với người mang thai hộ;

-         Chế độ nuôi con nhỏ cho người nhờ mang thai hộ khi nhận lại con từ người mang thai hộ (sau khi sinhvà nuôi con);

-         Đồng thời cần cân nhắc đối với vấn đề sau: Trong quá trình mang thai và sinh đẻ có thể gặp những tai biến cần phải xử lý theo quy định của thầy thuốc. Tuy nhiên trong trường hợp cần hy sinh mẹ để cứu con hoặc hy sinh con để cứu mẹ thì ai là người có quyền quyết định để thông báo với thầy thuốc xử lý.

2.     Theo quy định hiện nay điều kiện hưởng chế độ thai sản theo Bảo hiểm xã hội:

-         Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

·        Lao động nữ mang thai.

·        Lao động nữ sinh con.

·        Người lao động nhận nuôi con nuôi ≤4 tháng tuổi.

-         Người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

-         Trường hợp nhận nuôi con nuôi <4 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi

Như vậy phụ nữ mang thai hộ cũng phải được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội và Bộ Luật Lao động nhưng phụ nữ mang thai hộ chưa được quy định là một đối tượng trong Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ Luật Lao động. Do vậy cần phải quy định chế độ này cho phụ nữ mang thai hộ trong luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi. Nhưng người sử dụng lao động có chấp nhận không khi họ phải giải quyết các chế độ này một lần nữa cho người mang thai hộ khi mà người này đã được hưởng chế độ này 2 lần khi sinh con của chính họ. Bào hiểm xã hội cũng vậy – đây là một vấn đề cần phải xem xét

-         Đối với người nhờ mang thai hộ, người mẹ nhận lại đứa con của mình thì có được hưởng chế độ nghỉ thai sản để ở nhà chăm sóc con nhỏ. Họ được áp dụng theo chế độ đối với con nuôi hay quy định nào khác?

-         Các chế độ khác về chăm sóc con ốm đau được quy định như thế nào để đảm bảo quyền được chăm sóc của đứa trẻ.

-         Nếu quy định người mang thai hộ được hưởng chế độ chăm sóc thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội. Vậy người lao động tự do không tham gia bảo hiểm xã hội thì được hưởng như thế nào? Ai có trách nhiệm lo các chế độ này cho họ? Việc này cũng cần phải được quy định chặt chẽ.

3.     Tại Điều 98. Giải quyết vấn đề tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo quy định:

-         “Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con và bên mang thai hộ không tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng con thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho con. Theo yêu cầu của người giám hộ, bên nhờ mang thai hộ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Quy định như trên, không đảm bảo được quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của đứa trẻ

4.     Nghị định số 144/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 29/10/2013 quy định xử phạt VPHC về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em quy định.

-         Mức phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng được áp dụng đối với trường hợp bỏ hoặc không chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi sinh; cha mẹ, người giám hộ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, cắt đứt quan hệ tình cảm và vật chất với trẻ em, trừ trường hợp trẻ em làm con nuôi hoặc bị buộc phải cách ly trẻ em theo quy định; cha, mẹ, người giám hộ cố ý bỏ rơi trẻ em ở nơi công cộng, bỏ mặc hoặc ép buộc trẻ không sống cùng gia đình, bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Trong các trường hợp này, ngoài phạt tiền, cha mẹ, người nuôi dưỡng còn buộc phải thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo quy định của pháp luật. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/12/2013 và thay thế Nghị định số 91/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011.

-         Quy định trên có được áp dụng đối với trường hợp trẻ em được sinh ra nhờ phương pháp “mang thai hộ” bị bỏ rơi hay không? Người bị phạt là người mang thai hay bố mẹ đứa trẻ.


IV.           Khuyến nghị

1.     Phải có sự thống nhất về chính sách đối với lao động nữ trong Bộ Luật Lao động cũng như trong Luật Bảo hiểm xã hội để xác định người mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ được hưởng các chế độ về thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội và hưởng thai sản theo Bộ Luật Lao động.

2.     Cần quy định cụ thể hơn Quyền lợi của “người mang thai hộ” được hưởng trong và sau quá trình “mang thai hộ” để đảm bảo việc “mang thai hộ” không mang tính thương mại đồng thời cũng bảo đảm được quyền lợi bà mẹ “mang thai hộ” về chăm sóc y tế trong quá trình mang thai và sinh con.

3.     Quy định các chế tài mạnh mẽ đối với trường hợp đứa trẻ “mang thai hộ” được sinh ra nhưng không được nuôi dưỡng và chối bỏ để đảm bảo đứa trẻ được chăm sóc tốt nhất trong sự yêu thương của gia đình.

Bs, Lg Trịnh Thị Lê Trâm

Tin cùng loại