Thẩm quyền của TAND trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

 (Pháp lý) – Trong Luật Đất đai năm 2009 có quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, nhưng việc tranh chấp quyền sử dụng 120m2 đất giữa nhà bà B với ông H ở huyện P tỉnh L lại đang “trục trặc” về thẩm quyền giải quyết.

Sự việc bắt đầu là vào tháng 3/2013, ông A thỏa thuận nhượng cho bà B quyền sử dụng 120m2 đất để bà B làm nhà ở. Khi trao đổi việc chuyển nhượng 120m2 đất này, ông A cho bà B xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSDĐ) và ông A xác định 120m2 đất chuyển nhượng là trong thửa đất có diện tích 350m2 ghi trong Giấy CNQSDĐ của ông A. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng thực của UBND xã nơi ông A cư trú. Ông A đã giao đất cho bà B và bà B đã giao tiền cho ông A, nhưng chưa làm thủ tục xin cấp Giấy CNQSDĐ cho bà B đối với 120m2 đất mà bà B nhận chuyển nhượng của ông A. Khi bà B đến sử dụng đất thì ông H ngăn cản với lý do 120m2 đất đó thuộc quyền sử dụng của ông H, nhưng ông H không có bất cứ giấy tờ gì để chứng minh cho lời nói của ông H.

Việc tranh chấp giữa ông H và bà B được UBND xã hòa giải nhưng ông H với bà B không nhất trí với nhau, việc hòa giải không thành. Bà B khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện P yêu cầu Tòa án xác định cho bà là người được sử dụng 120m2 đất mà ông H có tranh chấp. Tuy nhiên, bà B và ông H đều không ai có Giấy CNQSDĐ đối với 120m2 đất đang tranh chấp và cũng không ai có một loại giấy gì mà Luật Đất đai quy định, ngoại trừ bà B có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông A và bà B. Sau đó ít ngày, bà B nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện cho bà B với lý do là: “Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”. Bà B khiếu nại việc Tòa án trả lời đơn khởi kiện.     Trong quá trình giải quyết đã có ý kiến khác nhau. Cụ thể là: Có ý kiến đồng tình với việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án huyện P vì nguyên đơn (bà B) và bị đơn (ông H) đều không có Giấy CNQSDĐ hoặc một trong các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai. Tuy nhiên, ý kiến khác lại đồng tình với giải quyết của UBND huyện P vì thửa đất có 120m2 đang tranh chấp giữa ông H với bà B đã có Giấy CNQSDĐ.

Về vấn đề thẩm quyền giải quyết trong vụ việc này:ý kiến trao đổi của chúng tôi như sau:

- Về quy định của pháp luật: tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai có quy định như sau: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”. Theo quy định này thì Tòa án nhân dân được quyền giải quyết trong các trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Tranh chấp về quyền sử dụng đất

Loại tranh chấp này phải có các điều kiện như sau: Đương sự phải có Giấy CNQSDĐ, quyển sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc là có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai.

Trường hợp 2: Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất  

Loại tranh chấp này thì không bắt buộc đương sự phải có một trong các loại giấy tờ thuộc trường hợp 1 mà chúng tôi trình bày ở trên.

+) Cụm từ “đương sự” quy định trong khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai được hiểu là “đương sự” quy định tại Điều 56 BLTTDS bao gồm: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 56 BLTTDS. Cụ thể là:

Trường hợp 1: Không phải nguyên đơn, không phải bị đơn nhưng tự mình nhận thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình nên tự đề nghị với Tòa án được tham gia tố tụng vụ án và được Tòa án chấp nhận.

Trường hợp 2: Người được nguyên hoặc bị đơn đề nghị tham gia tố tụng vụ án và được Tòa án chấp nhận.

Trường hợp 3: Người không được nguyên đơn hoặc bị đơn đề nghị nhưng Tòa án nhân dân thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ thì Tòa án chủ động đưa họ vào tham gia tố tụng.

+) Đối với các giấy tờ như Giấy CNQSDĐ, giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Đất đai và quy định tại khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai được hiểu là các giấy tờ này đối với diện tích đất đang tranh chấp.

- Về nhận thức đối với việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án huyện P: Chúng tôi đồng tình với ý kiến của UBND huyện P là vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện. Vì 120m2 đất tranh chấp là trong thửa đất đã được cấp Giấy CNQSDĐ. Do đó, việc Tòa án huyện P trả lại đơn khởi kiện cho bà B là không đúng. Vì đất đang tranh chấp đã có Giấy CNQSDĐ và Giấy CNQSDĐ đối với thửa đất đang tranh chấp do ông A đang giữ hợp pháp. Như vậy là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai.

Khi giải quyết vụ án, nếu bà B không đề nghị với Tòa án đưa ông A tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải chủ động đưa ông A tham gia tố tụng vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vì ông A đang giữ Giấy CNQSDĐ mà trong Giấy CNQSDĐ có thửa đất mà ông A chuyển nhượng cho bà B nên có ông A tham gia tố tụng mới làm rõ được Giấy CNQSDĐ mà ông A đang giữ có hợp pháp hay không? Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 120m2 đất mà bà B cung cấp cho Tòa án có đúng sự thật không? Đồng thời, làm rõ nghĩa vụ của ông A là cùng bà B làm việc với cơ quan có thẩm quyền trong việc chia tách thửa đất để bà B tiến hành thủ tục xin Giấy CNQSDĐ.

Trường hợp ông A tham gia tố tụng mà làm rõ được việc cấp Giấy CNQSDĐ cho ông A đối với thửa đất mà ông A chuyển nhượng 120m2 cho bà B là không hợp pháp thì ông A phải chịu hậu quả pháp lý đối với thửa đất mà ông A đã chuyển nhượng cho bà B 120m2.

Nắm vững pháp luật và giải quyết theo quy định của pháp luật là yêu cầu khách quan của xã hội đối với cá nhân, cơ quan và tổ chức.

Đinh Ngọc Huân
Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, Hà Nội

http://phaply.net.vn/

Tin cùng loại