Điều trị ARV cho tất cả mọi người nhiễm HIV và điều trị dự phòng trước phơi nhiễm cho những người có hành vi nguy cơ cao

 Ngày 30 tháng 9 năm 2015, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra khuyến cáo bất cứ ai bị nhiễm HIV nên bắt đầu điều trị ARV ngay sau khi chẩn đoán càng sớm càng tốt. Với quan điểm "điều trị tất cả" WHO cho rằng cần loại bỏ tất cả các hạn chế về điều kiện đối với điều trị bằng thuốc kháng virus với những người nhiễm HIV.
Khuyến cáo của WHO dựa trên những kết quả thử nghiệm lâm sàng gần đây khẳng định rằng việc điều trị sớm cho người nhiễm HIV giúp họ tiếp tục sống khỏe mạnh và làm giảm nguy cơ lây truyền HIV sang vợ/chồng/bạn tình.
WHO cũng khuyến cáo rằng những người có "nguy cơ cao" nhiễm HIV cần được cần cung cấp điều trị ARV để dự phòng. Khuyến cáo mới này cũng đã có trong hướng dẫn của WHO vào năm 2014 nhằm ngăn chặn việc lây nhiễm HIV hay còn gọi là điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP), cho những người nam quan hệ tình dục đồng giới. Hiện nay có thêm những bằng chứng mới về hiệu quả cũng như sự chấp nhận của điều trị dự phòng trước phơi nhiễm, do vậy WHO đã khuyến cáo mở rộng điều trị trước phơi nhiễm nhằm dự phòng cho các quần thể khác có nguy cơ nhiễm HIV cao. Điều trị trước phơi nhiễm được xem như là một lựa chọn dự phòng bổ sung dựa trên một gói dịch vụ toàn diện, bao gồm tư vấn xét nghiệm HIV và hỗ trợ tiếp cận với bao cao su và dụng cụ tiêm chích an toàn.
Khuyến cáo mới của WHO về việc điều trị ARV sớm và mở rộng điều trị trước phơi nhiễm đã được đề cập trong "Hướng dẫn về khi nào bắt đầu điều trị ARV và điều trị trước phơi nhiễm để dự phòng lây nhiễm HIV". Hướng dẫn nhấn mạnh rằng, để thực hiện có hiệu quả các khuyến cáo này, các nước sẽ cần phải đảm bảo rằng các dịch vụ xét nghiệm và điều trị nhiễm HIV là có sẵn và những người đang điều trị được hỗ trợ để tuân thủ điều trị.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, dựa trên các khuyến nghị mới, số lượng người đủ điều kiện cho điều trị bằng thuốc kháng virus sẽ tăng từ 28 triệu lên tất cả 37 triệu người nhiễm HIV hiện còn sống trên toàn cầu. Mở rộng tiếp cận điều trị là trung tâm của các mục tiêu mới đến năm 2020 với mục đích hướng tới kết thúc dich AIDS vào năm 2030. Những mục tiêu này bao gồm 90% của người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của họ, 90% những người chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng vi rút, và 90% số người được điều trị bằng thuốc kháng vi rút kiểm soát được lượn ví rút trong máu ở mức thấp (có tải lượng vi rút dưới ngưỡng phát hiện). Đây cũng được gọi là mục tiêu 90-90-90 do Liên Hợp quốc đã phát động.
Theo ước tính của UNAIDS, mở rộng việc điều trị ARV cho tất cả những người nhiễm HIV có thể giúp ngăn chặn 21 triệu người chết và 28 triệu người nhiễm mới HIV vào năm 2030.
Việt Nam là một trong các quốc gia đầu tiên khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hưởng ứng và cam kết thực hiện mục tiêu 90-90-90. Để đạt được mục tiêu 90% người nhiễm HIV được điều trị ARV, ngoài việc tăng cường các hoạt động tiếp cận người có hành vi nguy cơ cao, cung cấp các dịch vụ dự phòng, vận động họ tiếp cận dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV định kỳ thì Bộ Y tế cũng đã hướng dẫn việc mở rộng điều trị ARV. Việt Nam đã nâng ngưỡng điều trị ARV lên mức CD4<500 tế bào CD4/mm3 máu và điều trị ARV ngay sau khi phát hiện nhiễm HIV không phụ thuộc vào số lượng tế bào CD4 cho người nhiễm HIV ở các giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 bao gồm cả mắc lao; Người nhiễm HIV có biểu hiện của viêm gan vi rút B mạn tính nặng; Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú nhiễm HIV; Người nhiễm HIV có vợ/chồng không bị nhiễm HIV; Người nhiễm HIV thuộc các quần thể nguy cơ bao gồm: người tiêm chích ma túy, phụ nữ bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới; Người nhiễm HIV ≥ 50 tuổi; Người nhiễm HIV sinh sống, làm việc tại khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và tất cả trẻ em dưới 5 tuổi. Việc điều trị ARV dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cũng thay đổi. Theo đó tất cả phụ nữ mang thai nhiễm HIV và mẹ nhiễm HIV cho con bú sẽ được điều trị ngay bằng thuốc ARV không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào CD4, không phụ thuộc các giai đoạn của thai kỳ. Điều trị ARV trong suốt thời kỳ mang thai, trong khi chuyển dạ, sau khi sinh con và tiếp tục điều trị suốt đời.
Song song với nâng ngưỡng điều trị ARV, công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS đang được tích cực mở rộng, lồng ghép vào hệ thống y tế chung và phân tuyến về y tế cơ sở nhằm đảm bảo tính bền vững, tăng khả năng tiếp cận, giảm chi phí đi lại, tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh. Hiện nay, 50% số huyện đã có cơ sở điều trị HIV/AIDS và trên 500 trạm y tế xã đã cấp phát thuốc ARV cho người bệnh. Việt Nam cũng là quốc gia đầu tiên thử nghiệm thành công Sáng kiến tiếp cận điều trị 2.0 nhằm đưa các dịch vụ xét nghiệm và điều trị ARV về các trạm y tế xã để tạo thuận lợi cho người có hành vi nguy cơ cao và người nhiễm HIV thuận lợi trong việc tiếp cận các dịch vụ dự phòng và điều trị HIV/AIDS.
Chắc chắn rằng khi Hướng dẫn mới của WHO dự kiến được công bố chính thức vào cuối năm 2015, vấn đề điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV cũng sẽ được Việt Nam xem xét.

vaac.gov.vn

Tin cùng loại