Tài liệu tham vấn: Khuyến nghị về Xây dựng chính sách nhằm Cải thiện Dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tại Việt Nam

 
Giới thiệu và Khuôn khổ nghiên cứu
Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe trẻ em luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm chú trọng. Nhận thức được tầm quan trọng của sữa mẹ đối với sự phát triển của trẻ nhỏ, Việt Nam đã ban hành các chính sách để hỗ trợ, duy trì và khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ và cải thiện dinh dưỡng cho trẻ nhỏ. Trong đó phải kể đến Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng năm 2011 – 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2013 (Đề án 641); Bộ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, và 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý của Bộ Y tế. Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể, tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở đa số các tỉnh thành vẫn còn ở mức cao, và suy dinh dưỡng trẻ em tiếp tục là mối quan ngại, gây ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng dân số Việt Nam. 
Do đó, nghiên cứu này có mục tiêu tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng, chú trọng vào tìm hiểu các tập quán nuôi con bằng sữa mẹ và cho ăn bổ sung, để phác thảo nên một bức tranh toàn cảnh về tình hình dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tại Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những khuyến nghị chính sách thích hợp.
Các chính sách và tập quán dinh dưỡng tốt nhất dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ của quốc tế
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sữa mẹ cung cấp 100% nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ trong giai đoạn 6 tháng đầu, 50% nhu cầu ấy cho giai đoạn từ 6 đến 12 tháng tuổi. Trong năm thứ hai, sữa mẹ vẫn còn có thể cung cấp 33% nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Ngoài ra, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời và tiếp tục cho bé bú đến ít nhất 2 năm tuổi sẽ mang lại nhiều lợi ích về sức khỏe, giúp cho trẻ tránh các bệnh như suy dinh dưỡng, viêm phổi, tiêu chảy....Nuôi con bằng sữa mẹ là cách tối ưu nhằm cung cấp thức ăn lý tưởng cho sự tăng trưởng và phát triển khỏe mạnh của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tuy nhiên, như Khuyến nghị toàn cầu của UNICEF về tập quán nuôi con đã nêu rõ: “Kể cả khi trẻ được bú mẹ tối ưu, trẻ sẽ có thể bị còi cọc nếu không được cung cấp đầy đủ thực phẩm bổ sung bảo đảm dinh dưỡng sau 6 tháng tuổi.”  Như vậy, sau 6 tháng tuổi, trẻ cần được ăn bổ sung hợp lý, đúng cách.
Do vậy, nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi và thiếu hụt vi chất dinh dưỡng, các chính sách cần nhấn mạnh đóng góp tích cực vào việc thực hiện hiệu quả các khuyến nghị toàn cầu của WHO/UNICEF về tập quán cho ăn bổ sung đúng cách. Theo đó, cho ăn bổ sung cần phải kịp thời, đầy đủ, thức ăn cần phải được chuẩn bị và cho ăn một cách an toàn và được cho ăn một cách thích hợp. 
Các vấn đề dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ hiện nay tại Việt Nam
Theo Chiến lược toàn cầu về Nuôi dưỡng trẻ nhỏ của Tổ chức Y tế thế giới, ngay từ khi mang thai, giữa bà mẹ và trẻ sơ sinh đã có mối liên hệ về mặt sinh học và xã hội không thể tách rời: sức khỏe và dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ sơ sinh có mối liên hệ mật thiết với nhau. 1000 ngày đầu tiên - bắt đầu từ lúc mang thai, trong khi mang thai đến trẻ 24 tháng tuổi được coi là giai đoạn "cửa sổ cơ hội" đề phòng suy dinh dưỡng thấp còi và các khuyết tật về nhận thức và thể chất. Giảm suy dinh dưỡng trẻ em một cách rõ rệt có thể đạt được thông qua cải thiện dinh dưỡng cho bà mẹ trước và trong thai kỳ, cho trẻ bú sớm và bú hoàn toàn, kéo dài thời gian cho trẻ bú đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn, cho ăn bổ sung hợp lý và các bổ sung vi chất dinh dưỡng phù hợp.
Các nghiên cứu về tập quán nuôi con cho thấy nhận thức về tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ ở Việt Nam là rất tốt. Theo Viện Gia đình & Giới, 77,7% phụ nữ hiểu được rằng cách chăm sóc tốt hơn cho trẻ là cho bú sữa mẹ và 79,6% phụ nữ cho rằng nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Tuy nhiên, tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ở trẻ dưới 6 tháng tuổi dù đã cải thiện trong những năm gần đây nhưng còn tương đối thấp với chỉ 19,6% và chỉ có 62% trẻ em Việt Nam được bú mẹ trong giờ đầu sau khi sinh. Yêu cầu công việc của bà mẹ là rào cản lớn nhất với việc thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tại Việt Nam: 83% lao động nữ đồng ý rằng việc quay trở lại làm việc khiến họ không thể thực hiện cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Quy định mới trong Bộ luật Lao động sửa đổi cho các bà mẹ nghỉ chế độ thai sản 6 tháng sẽ tạo tiền đề cho việc nâng cao tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu. 
Trong khi đó, số ít các nghiên cứu về tập quán cho ăn bổ sung cho trẻ trên 6 tháng tuổi cho thấy tập quán này ở Việt Nam còn nhiều bất cập. Cụ thể, cách cho ăn truyền thống đối với trẻ em Việt Nam là sự chuyển tiếp từ sữa mẹ hoặc sản phẩm dinh dưỡng công thức dành cho trẻ sơ sinh sang các loại thức ăn chủ yếu làm từ ngũ cốc, khoai, củ, v.v. nghèo chất dinh dưỡng, chất đạm và vi chất. Về chất lượng bữa ăn bổ sung, hiện tại, chỉ có 51,7% trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi ở Việt Nam được nuôi bằng thực phẩm bổ sung đáp ứng khẩu phần ăn tối thiểu có thể chấp nhận được. Ngoài ra, khẩu phần ăn bổ sung của trẻ từ 7 đến 24 tháng chưa bảo đảm sự đa dạng các loại thực phẩm và tính cân đối trong khẩu phần thức ăn. Về thời gian cho trẻ ăn bổ sung, 74,2% trẻ được ăn bổ sung từ 4 tháng tuổi. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trẻ được cho ăn bổ sung quá sớm (trước 4 tháng tuổi) hoặc quá muộn (sau 6 tháng tuổi), gây ra các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng ở trẻ nhỏ.
Nhìn chung, kiến thức nghèo nàn và thiếu hướng dẫn về cách cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ăn bổ sung phù hợp là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ở Việt Nam còn cao . Những rào cản về vấn đề kinh tế, việc làm cũng khiến trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu hoặc kéo dài đến 24 tháng. Bên cạnh đó, khẩu phần ăn sản phẩm dinh dưỡng công thức cho chế độ ăn dặm của trẻ còn thấp, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.
Các khuyến nghị chính
Điểm mấu chốt nổi lên từ tổng quan nghiên cứu và phân tích dinh dưỡng ở Việt Nam đó là cần chú trọng và ưu tiên hơn đối với việc cải thiện dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em và tập quán cho ăn bổ sung – một can thiệp quan trọng nhằm phòng ngừa suy dinh dưỡng và đặc biệt là thấp còi. 
Để cải thiện hơn nữa tập quán nuôi con bằng sữa mẹ, cần tạo dựng một môi trường thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em bằng cách khắc phục những rào cản về kinh tế, xã hội và văn hóa. Cần khuyến khích môi trường làm việc hỗ trợ việc nuôi con bằng sữa mẹ, bảo đảm để các bà mẹ được thực sự nghỉ trọn vẹn 6 tháng thai sản. Ví dụ, cần khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhân công nữ có phòng dành riêng cho các bà mẹ cho con bú. Ngoài ra, cần tăng cường các chính sách hỗ trợ các bà mẹ làm việc trong khu vực phi chính thức và khu vực nông nghiệp, bởi phần lớn các bà mẹ trong nhóm này có điều kiện kinh tế khó khăn và trình độ giáo dục thấp, do vậy không thể thực hiện cách nuôi con tối ưu. Trong trường hợp các bà mẹ không thể cho con bú được vì lý do bệnh tật hoặc vì các lý do khách quan khác, cần có một thị trường hợp pháp cho các sản phẩm dinh dưỡng công thức dành cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, theo đó, tất cả các sản phẩm này cần được dễ tiếp cận đối với những người cần chúng thông qua các hệ thống phân phối thương mại hay phi thương mại.
Các nghiên cứu và chính sách nên chú trọng và ưu tiên hơn vai trò y tế trong việc cho tuyên truyền, hướng dẫn trẻ bú mẹ và ăn bổ sung hợp lý. Việc áp dụng Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia đối với sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ em – phân biệt thức ăn thay thế sữa mẹ và thức ăn bổ sung là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho việc tăng cường dinh dưỡng một cách chính thống và hòa nhập. Các bà mẹ cần được tiếp cận hiệu quả đến các loại thực phẩm bổ sung khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn uống đầy đủ và đa dạng của con mình, được cung cấp thông tin và giáo dục thích hợp để có lựa chọn nuôi con với đầy đủ thông tin. Cần có sự hỗ trợ từ tất cả các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ để đưa các thực phẩm bổ dưỡng đến được với các bà mẹ nghèo, những vùng còn khó khăn.
Các chính sách của Việt Nam cần được thực thi tốt hơn nữa để có thể đạt được các mục tiêu quốc gia về sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật để tiến hành sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Một số văn bản quy phạm pháp luật mới ra đới sắp có hiệu lực cũng cần được chuẩn bị tốt để khi đưa vào thực tiễn cuộc sống sẽ thi hành được ngay và đạt được hiệu quả cao. Cần thực thi nghiêm chỉnh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng được sử dụng hàng hóa có xuất xứ rõ ràng và đạt chất lượng. Việc sửa đổi Nghị định 21/2006/NĐ-CP cần được thực hiện dựa trên những ưu tiên về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ của Việt Nam, bảo đảm cho trẻ em ở Việt Nam được phát triển tốt nhất, chú trọng nhấn mạnh vai trò của sữa mẹ cũng như vai trò của thức ăn bổ sung bảo đảm chất lượng để các bà mẹ có thể tiếp nhận được các thông tin đầy đủ và chính xác về vai trò của sữa mẹ cũng như thực hành dinh dưỡng tối ưu dành cho trẻ nhỏ.
 

Tin cùng loại